Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, hoạt động khuyến nông Việt Nam cần tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác với hệ thống khuyến nông các nước trên thế giới; đặc biệt là các nước ASEAN.
Có gì mới?
Latest Post
16:19
Khuyến nông có Sự tham gia
Written By Tadien on Wednesday, April 10, 2013 | 16:19
Vì nhiều lý do khác nhau, khuyến nông ở Việt Nam chủ yếu là từ trung ương xuống địa phương. Thông thường các chủ đề chưa đáp ứng ngay được các nhu cầu cấp thiết của người dân, hoặc chưa thích hợp với các điều kiện làm việc và nguồn lực của nhà nông. Chương trình muốn góp phần xây dựng một hệ thống khuyến nông dựa nhiều hơn vào nhu cầu của nông dân, đúng theo các chính sách khuyến nông (Nghị định 56, nghị định 02/2010/ND-CP, thông tư 60 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Rất nhiều nhà quan sát và các bên tham gia chương trình đều nhất trí rằng các kĩ năng về kỹ thuật khuyến nông hiện tại là khá tốt. Tuy nhiên, các kỹ năng về phương pháp cần được cải thiện.
Ý tưởng chính của chương trình này là củng cố các kỹ năng về phương pháp để có thể giúp tạo nên một hệ thống khuyến nông hiệu quả hơn. Vì vậy, mục tiêu chính của chương trình là nâng cao năng lực cho các cán bộ khuyến nông và các Câu lạc bộ nông dân. Để thực hiện được mục tiêu này một cách bền vững, một mặt chương trình sẽ xây dựng tài liệu và một hệ thống cho đào tạo liên tục và mặt khác vận động thể chế hóa các nguyên lý khuyến nông có sự tham gia ở hệ thống khuyến nông tỉnh (ở cấp quản lý của Trung tâm khuyến nông-TTKN và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn- Sở NNPTNN).
Trong giai đoạn 1(2008-2010), mỗi tỉnh thành lập một nhóm giảng viên và được Viện Nghiên cứu và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (MDI) và Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam (IAS) đào tạo. Cuối năm 2010, các giảng viên này bắt đầu đào tạo lại cho các cán bộ khuyến nông tỉnh và chủ nhiệm các Câu lạc bộ nông dân. Các tập huấn ở tại tỉnh được giám sát đồng thời nhận được nguồn kinh phí hỗ trợ nhỏ và các tài liệu tập huấn sẽ được hoàn thiện.
Để lồng ghép phương pháp có sự tham gia vào hệ thống khuyến nông, sự hỗ trợ của cấp quản lý (Sở NNPTNT và TTKN) rõ ràng là rất cần thiết để ủng hộ và sử dụng phương pháp này trong hệ thống khuyến nông. Sở NNPTNT- là đơn vị cấp ngân sách cho TTKN, cần hỗ trợ việc ứng dụng các phương pháp có sự tham gia và sẽ tham gia nhiều hơn vào chương trình, quá trình này đã bắt đầu từ năm 2010 và sẽ được tiếp tục đẩy mạnh. Chương trình mong muốn nâng cao năng lực cho cấp quản lý của các TTKN thông qua tổ chức các cuộc họp thường kì, các hội thảo và các chuyến thăm quan học tập trong tỉnh, và thông qua phát triển các tài liệu phù hợp với địa phương và qua các lớp tập huấn ngắn.
Tính bền vững thường sẽ thể hiện qua một kế hoạch chung đưa các phương pháp này vào hoạt động của đối tác mặc dù mỗi tỉnh có cách nhìn nhận riêng về khuyến nông: nhu cầu, tài nguyên, các khả năng, tầm nhìn...
Khuyến nông được đề cập đến như trách nhiệm của tất cả các thành phần trong xã hội. Do đó, bức tranh về khuyến nông rất đa dạng và các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân và Hội Phụ nữ năng nổ đưa khuyến nông vào các hoạt động của mình, bởi vì một trong các nhiệm vụ chính của họ là giúp đỡ các thành viên tăng thu nhập và giảm nghèo. Các tổ chức đoàn thể là đối tác ở kết quả trung gian 2 của chương trình. Trong giai đoạn 2, chúng tôi có các hoạt động cho cấp quản lý của các tổ chức đoàn thể mặc dù trên thực tế sự tham gia vào khuyến nông của họ là hạn chế nhưng họ có vai trò thúc đẩy ứng dụng các phương pháp này.
Nhãn:
academic,
vietnamese
16:00
2. Hệ thống khuyến nông của một số nước ASEAN
Cục Khuyến nông Indonesia trực thuộc Bộ Nông nghiệp Indonesia, được chia làm 5 cấp quản lý khuyến nông: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quận, cấp xã với các cán bộ khuyến nông chuyên trách, và bán chuyên trách, cán bộ khuyến nông làm việc theo hợp đồng và nhóm cộng tác viên khuyến nông.
Định hướng phát triển khuyến nông của Indonesia nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật cho nông dân, hướng dẫn nong dân đăng ký và làm theo GAP. Cục Khuyến nông Indonesia co mối liên hệ chặt chẽ với Cục Trồng trọt và các Cục khác thuộc sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp Indonesia.
Cục Khuyến nông Malaysia thuộc Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia, với định hướng hoạt động chuyển giao công nghệ nông nghiệp và hướng dẫn nông dân thực hiện tiêu chuẩn hóa theo ISO 9001:2008.
Hệ thống Khuyến nông Malaysia cũng có 5 cấp như Indonesia và còn trực tiếp tổ chức thực hiện các khóa đào tạo khuyến nông của ASEAN về khuyến nông, môi trường và công nghệ sau thu hoạch. Cùng với Cục Khuyến nông, Cục Trồng trọt và Cục Quản lý chất lượng nông sản hoạt động dưới sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia.
Cục Khuyến nông Myanmar thuộc Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar, phối hợp với các Cục Quản lý nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar để thực hiện công tác chuyển giao công nghệ về SX nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch. Cục Khuyến nông Myanmar tập trung định hướng xây dựng các mô hình trình diễn quy mô lớn, kỹ thuật về công nghệ hạt giống và đào tạo lớp học hiện trường (FFS) và hướng dẫn nông dân thực hiện, đăng ký nông sản theo các tiêu chuẩn của ASEAN GAP.
Điều kiện phát triển SX nông nghiệp của các nước ASEAN cũng tương tự như Việt Nam nên có thể ứng dụng tổ chức hệ thống Khuyến nông (quản lý Nhà nước cấp Trung ương và quản lý hệ thống cấp địa phương) vào điều kiện của Việt Nam.
(*): Tác giả hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Hệ thống khuyến nông của Thái Lan và một số nước Asean
Thực tế một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Myanmar.., bên cạnh các Cục Quản lý SX chuyên ngành như Cục Nông nghiệp, Cục Lâm nghiệp, Cục Thủy lợi, Cục Thủy sản... đều có Cục Khuyến nông để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác khuyến nông và chuyển giao công nghệ đến nông dân.
Ngành nông nghiệp các nước ASEAN không chỉ có những điểm chung về thời tiết, khí hậu, về điều kiện SX mà còn có những điểm tương đồng mà Việt Nam có thể học tập và vận dụng.
1. Hệ thống Khuyến nông Thái Lan
Thái Lan có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương tự miền Nam Việt Nam với nền nông nghiệp tiên tiến ứng dụng công nghệ cao trong SX. Khoảng 60% lực lượng lao động phục vụ cho ngành nông nghiệp. Lúa là cây trồng quan trọng nhất của Thái Lan. Là nước XK gạo lớn nhất thế giới, mang lại cho quốc gia này hàng tỷ USD/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP 7,8% (2010) giúp Thái Lan trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á.
Góp phần vào việc thúc đẩy nền công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, có vai trò của hệ thống Khuyến nông Thái Lan. Cục Khuyến nông Thái Lan (Department of Agriculture Extension - DOAE) đã được thành lập 45 năm (từ năm 1967) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan.
Cơ cấu tổ chức:
Cục Khuyến nông Thái Lan được chia là 2 cấp: Quản lý Nhà nước cấp Trung ương, có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông. Cấp quản lý hành chính cấp địa phương có nhiệm vụ xúc tiến, phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng trên địa bàn tỉnh quản lý, điều phối các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp.
Cấp Khuyến nông Trung ương (16 phòng ban và 6 trung tâm khu vực vùng) có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông.
Về cơ cấu tổ chức có 16 phòng, ban gồm Văn phòng thư ký, phòng Nhân sự, phòng Tài chính, phòng Kế hoạch, phòng Kiểm toán nội bộ, phòng Phát triển công lập và các phòng chuyên môn sau:
- Phòng Phát triển nông nghiệp trọng điểm (cung cấp dịch vụ khuyến nông ở những lĩnh vực mà nhà nước ưu tiên);
- Phòng nghiên cứu và phát triển khuyến nông (tổ chức các cuộc khảo sát học tập, nghiên cứu, phát triển các cách tiếp cận khuyến nông, điều phối và phối hợp với các cơ quan kỹ thuật để xây dựng tài liệu khuyến nông phù hợp với vùng, miền);
- Phòng phát triển chuyển giao công nghệ (xây dựng và phát triển các chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ các Trung tâm chuyển giao công nghệ cấp xã);
- Phòng Phát triển nông dân (khuyến khích nông dân làm nghề nông, tổ chức nhóm nông dân và mạng lợi nhóm, quản lý trang trại hộ gia đình, và du lịch sinh thái);
- Phòng Phát triển chất lượng nông sản (phát triển, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ về chất lượng nông sản và xây dựng các quy chuẩn về chất lượng sản phẩm, khuyến khích SX sản phẩm hữu cơ);
- Phòng Quản lý và xúc tiến nông sản: Xây dựng hướng dẫn, kế hoạch hành động liên quan đến SX, quản lý và xúc tiến thương mại nông sản.
- Phòng Xúc tiến cơ khí nông nghiệp: Phát triển, ứng dụng các công nghệ, cơ giới hóa trong SX nông nghiệp.
- Phòng Đổi mới kinh tế tự chủ: Nghiên cứu, trình bày và hình thành hệ thống kiến thức liên quan đến kinh tế nhằm phù hợp với điều kiện của nông dân những khu vực khác nhau.
- Ban Xúc tiến DN cộng đồng: Quản lý toàn bộ các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ DN cộng đồng.
- Trung tâm thông tin: Xây dựng hệ thống dữ liệu, hệ thống thông tin, số hóa dữ liệu để phục vụ cho ngành nông nghiệp.
Văn phòng phát triển và khuyến nông khu vực (Trung tâm Khuyến nông vùng) với 6 văn phòng tại các tỉnh: Chai Nat, Ratchaburi, Rayong, Khon Kaen, Songkhla và Chiang Mai.
Nhiệm vụ của khối văn phòng này là quản lý 48 đơn vị trực thuộc (Trung tâm Phát triển và xúc tiến nghề nông) của Cục Khuyến nông Thái Lan đặt tại khu vực vùng. Những đơn vị hoạt động này được sử dụng như những địa điểm học tập, trung tâm tập huấn nông nghiệp, biên soạn và phát triển các tài liệu khuyến nông, hỗ trợ nông dân, cung cấp các dịch vụ nông nghiệp và tư vấn kỹ thuật.
Trung tâm Phát triển và xúc tiến nghề nông, gồm 48 Trung tâm: 12 Trung tâm nghề làm vườn; 10 Trung tâm nuôi cấy mô; 5 Trung tâm nuôi ong; 4 Trung tâm nông nghiệp; 1 Trung tâm cao su; 1 Trung tâm khuyến khích thanh thiếu niên SXNN; 6 Trung tâm khuyến nông vùng cao và 9 Trung tâm quản lý sâu, bệnh hại.
Cấp Khuyến nông địa phương gồm cấp tỉnh và cấp huyện:
Cấp tỉnh: Văn phòng Khuyến nông tỉnh (tương đương Trung tâm Khuyến nông tỉnh của Việt Nam) có 77 Văn phòng, với nhiệm vụ xúc tiến, phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng trên địa bàn tỉnh quản lý, điều phối các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi.
Cấp huyện: Văn phòng Khuyến nông huyện (tương đương Trạm Khuyến nông huyện của Việt Nam), với 882 văn phòng khuyến nông huyện có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, xúc tiến và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở huyện, khuyến khích và phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng ở mỗi huyện và tiến hành các hoạt động hỗ trợ SX nông nghiệp khác.
Cán bộ khuyến nông: Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động khuyến nông và là người gần với dân nhất. Hiện tại, mỗi xã có 1-2 cán bộ khuyến nông và được Bộ Nông nghiệp và HTX Thái Lan bổ nhiệm như những cán bộ đại diện cho Bộ điều phối và hoạt động ở địa phương với các nhiệm vụ về tư vấn; cung cấp kiến thức; cung cấp dịch vụ; quản lý kiến thức và điều phối.
Ngoài ra, mỗi xã đều có 1 hội đồng tư vấn khuyến nông, thành viên là các lãnh đạo chủ chốt của xã, có nhiệm vụ định hướng và xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp cho xã.
Cơ chế hoạt động khuyến nông ở Thái Lan:
Cục Khuyến nông có mối liên hệ chặt chẽ với Cục Nông nghiệp. Cục Nông nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan. Cục Nông nghiệp chủ yếu làm công tác quản lý và nghiên cứu, không trực tiếp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kết quả nghiên cứu tới người nông dân, những công việc này được giao cho Cục Khuyến nông để thực hiện các hoạt động chuyển giao tới nông dân.
Các hoạt động khuyến nông của Thái Lan chủ yếu tập trung vào hoạt động đào tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền, tư vấn dịch vụ. Những hoạt động này hoàn toàn miễn phí đối với người nông dân.
Điểm nổi bật trong hoạt động khuyến nông Thái Lan đó là Quỹ tín dụng nông thôn. Cơ chế tín dụng tự nguyện của Thái Lan giúp người dân an tâm về nguồn vốn cho phát triển SX quy mô hộ gia đình.
Quỹ tín dụng nông thôn do Văn phòng hợp tác xã của tỉnh quản lý. Cán bộ khuyến nông có trách nhiệm hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn tín dụng nông thôn để phát triển SX.
Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn chỉ xây dựng trong phạm vi các Viện nghiên cứu, các Trung tâm phát triển xúc tiến nghề nông và Văn phòng Khuyến nông huyện để nông dân, những người quan tâm đến học tập, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp SX, kỹ năng phương pháp khuyến nông (không giống ở Việt Nam). Kinh phí hỗ trợ của nhà nước dành cho hoạt động khuyến nông lớn, nên thuận lợi trong triển khai nhiều hoạt động. Người nông dân không phải lo đóng góp kinh phí đối ứng nên việc triển khai nhân rộng các mô hình ở nhiều địa bàn khác nhau rất thuận lợi.
Ngành nông nghiệp các nước ASEAN không chỉ có những điểm chung về thời tiết, khí hậu, về điều kiện SX mà còn có những điểm tương đồng mà Việt Nam có thể học tập và vận dụng.
1. Hệ thống Khuyến nông Thái Lan
Thái Lan có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương tự miền Nam Việt Nam với nền nông nghiệp tiên tiến ứng dụng công nghệ cao trong SX. Khoảng 60% lực lượng lao động phục vụ cho ngành nông nghiệp. Lúa là cây trồng quan trọng nhất của Thái Lan. Là nước XK gạo lớn nhất thế giới, mang lại cho quốc gia này hàng tỷ USD/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP 7,8% (2010) giúp Thái Lan trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á.
Góp phần vào việc thúc đẩy nền công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, có vai trò của hệ thống Khuyến nông Thái Lan. Cục Khuyến nông Thái Lan (Department of Agriculture Extension - DOAE) đã được thành lập 45 năm (từ năm 1967) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan.
Cơ cấu tổ chức:
Cục Khuyến nông Thái Lan được chia là 2 cấp: Quản lý Nhà nước cấp Trung ương, có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông. Cấp quản lý hành chính cấp địa phương có nhiệm vụ xúc tiến, phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng trên địa bàn tỉnh quản lý, điều phối các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp.
Cấp Khuyến nông Trung ương (16 phòng ban và 6 trung tâm khu vực vùng) có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông.
Về cơ cấu tổ chức có 16 phòng, ban gồm Văn phòng thư ký, phòng Nhân sự, phòng Tài chính, phòng Kế hoạch, phòng Kiểm toán nội bộ, phòng Phát triển công lập và các phòng chuyên môn sau:
- Phòng Phát triển nông nghiệp trọng điểm (cung cấp dịch vụ khuyến nông ở những lĩnh vực mà nhà nước ưu tiên);
- Phòng nghiên cứu và phát triển khuyến nông (tổ chức các cuộc khảo sát học tập, nghiên cứu, phát triển các cách tiếp cận khuyến nông, điều phối và phối hợp với các cơ quan kỹ thuật để xây dựng tài liệu khuyến nông phù hợp với vùng, miền);
- Phòng phát triển chuyển giao công nghệ (xây dựng và phát triển các chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ các Trung tâm chuyển giao công nghệ cấp xã);
- Phòng Phát triển nông dân (khuyến khích nông dân làm nghề nông, tổ chức nhóm nông dân và mạng lợi nhóm, quản lý trang trại hộ gia đình, và du lịch sinh thái);
- Phòng Phát triển chất lượng nông sản (phát triển, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ về chất lượng nông sản và xây dựng các quy chuẩn về chất lượng sản phẩm, khuyến khích SX sản phẩm hữu cơ);
- Phòng Quản lý và xúc tiến nông sản: Xây dựng hướng dẫn, kế hoạch hành động liên quan đến SX, quản lý và xúc tiến thương mại nông sản.
- Phòng Xúc tiến cơ khí nông nghiệp: Phát triển, ứng dụng các công nghệ, cơ giới hóa trong SX nông nghiệp.
- Phòng Đổi mới kinh tế tự chủ: Nghiên cứu, trình bày và hình thành hệ thống kiến thức liên quan đến kinh tế nhằm phù hợp với điều kiện của nông dân những khu vực khác nhau.
- Ban Xúc tiến DN cộng đồng: Quản lý toàn bộ các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ DN cộng đồng.
- Trung tâm thông tin: Xây dựng hệ thống dữ liệu, hệ thống thông tin, số hóa dữ liệu để phục vụ cho ngành nông nghiệp.
Văn phòng phát triển và khuyến nông khu vực (Trung tâm Khuyến nông vùng) với 6 văn phòng tại các tỉnh: Chai Nat, Ratchaburi, Rayong, Khon Kaen, Songkhla và Chiang Mai.
Nhiệm vụ của khối văn phòng này là quản lý 48 đơn vị trực thuộc (Trung tâm Phát triển và xúc tiến nghề nông) của Cục Khuyến nông Thái Lan đặt tại khu vực vùng. Những đơn vị hoạt động này được sử dụng như những địa điểm học tập, trung tâm tập huấn nông nghiệp, biên soạn và phát triển các tài liệu khuyến nông, hỗ trợ nông dân, cung cấp các dịch vụ nông nghiệp và tư vấn kỹ thuật.
Trung tâm Phát triển và xúc tiến nghề nông, gồm 48 Trung tâm: 12 Trung tâm nghề làm vườn; 10 Trung tâm nuôi cấy mô; 5 Trung tâm nuôi ong; 4 Trung tâm nông nghiệp; 1 Trung tâm cao su; 1 Trung tâm khuyến khích thanh thiếu niên SXNN; 6 Trung tâm khuyến nông vùng cao và 9 Trung tâm quản lý sâu, bệnh hại.
Cấp Khuyến nông địa phương gồm cấp tỉnh và cấp huyện:
Cấp tỉnh: Văn phòng Khuyến nông tỉnh (tương đương Trung tâm Khuyến nông tỉnh của Việt Nam) có 77 Văn phòng, với nhiệm vụ xúc tiến, phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng trên địa bàn tỉnh quản lý, điều phối các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi.
Cấp huyện: Văn phòng Khuyến nông huyện (tương đương Trạm Khuyến nông huyện của Việt Nam), với 882 văn phòng khuyến nông huyện có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, xúc tiến và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở huyện, khuyến khích và phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng ở mỗi huyện và tiến hành các hoạt động hỗ trợ SX nông nghiệp khác.
Cán bộ khuyến nông: Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động khuyến nông và là người gần với dân nhất. Hiện tại, mỗi xã có 1-2 cán bộ khuyến nông và được Bộ Nông nghiệp và HTX Thái Lan bổ nhiệm như những cán bộ đại diện cho Bộ điều phối và hoạt động ở địa phương với các nhiệm vụ về tư vấn; cung cấp kiến thức; cung cấp dịch vụ; quản lý kiến thức và điều phối.
Ngoài ra, mỗi xã đều có 1 hội đồng tư vấn khuyến nông, thành viên là các lãnh đạo chủ chốt của xã, có nhiệm vụ định hướng và xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp cho xã.
Cơ chế hoạt động khuyến nông ở Thái Lan:
Cục Khuyến nông có mối liên hệ chặt chẽ với Cục Nông nghiệp. Cục Nông nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan. Cục Nông nghiệp chủ yếu làm công tác quản lý và nghiên cứu, không trực tiếp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kết quả nghiên cứu tới người nông dân, những công việc này được giao cho Cục Khuyến nông để thực hiện các hoạt động chuyển giao tới nông dân.
Các hoạt động khuyến nông của Thái Lan chủ yếu tập trung vào hoạt động đào tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền, tư vấn dịch vụ. Những hoạt động này hoàn toàn miễn phí đối với người nông dân.
Điểm nổi bật trong hoạt động khuyến nông Thái Lan đó là Quỹ tín dụng nông thôn. Cơ chế tín dụng tự nguyện của Thái Lan giúp người dân an tâm về nguồn vốn cho phát triển SX quy mô hộ gia đình.
Quỹ tín dụng nông thôn do Văn phòng hợp tác xã của tỉnh quản lý. Cán bộ khuyến nông có trách nhiệm hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn tín dụng nông thôn để phát triển SX.
Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn chỉ xây dựng trong phạm vi các Viện nghiên cứu, các Trung tâm phát triển xúc tiến nghề nông và Văn phòng Khuyến nông huyện để nông dân, những người quan tâm đến học tập, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp SX, kỹ năng phương pháp khuyến nông (không giống ở Việt Nam). Kinh phí hỗ trợ của nhà nước dành cho hoạt động khuyến nông lớn, nên thuận lợi trong triển khai nhiều hoạt động. Người nông dân không phải lo đóng góp kinh phí đối ứng nên việc triển khai nhân rộng các mô hình ở nhiều địa bàn khác nhau rất thuận lợi.
2. Hệ thống khuyến nông của một số nước ASEAN
Cục Khuyến nông Indonesia trực thuộc Bộ Nông nghiệp Indonesia, được chia làm 5 cấp quản lý khuyến nông: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quận, cấp xã với các cán bộ khuyến nông chuyên trách, và bán chuyên trách, cán bộ khuyến nông làm việc theo hợp đồng và nhóm cộng tác viên khuyến nông.
Định hướng phát triển khuyến nông của Indonesia nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật cho nông dân, hướng dẫn nong dân đăng ký và làm theo GAP. Cục Khuyến nông Indonesia co mối liên hệ chặt chẽ với Cục Trồng trọt và các Cục khác thuộc sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp Indonesia.
Cục Khuyến nông Malaysia thuộc Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia, với định hướng hoạt động chuyển giao công nghệ nông nghiệp và hướng dẫn nông dân thực hiện tiêu chuẩn hóa theo ISO 9001:2008.
Hệ thống Khuyến nông Malaysia cũng có 5 cấp như Indonesia và còn trực tiếp tổ chức thực hiện các khóa đào tạo khuyến nông của ASEAN về khuyến nông, môi trường và công nghệ sau thu hoạch. Cùng với Cục Khuyến nông, Cục Trồng trọt và Cục Quản lý chất lượng nông sản hoạt động dưới sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia.
Cục Khuyến nông Myanmar thuộc Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar, phối hợp với các Cục Quản lý nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar để thực hiện công tác chuyển giao công nghệ về SX nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch. Cục Khuyến nông Myanmar tập trung định hướng xây dựng các mô hình trình diễn quy mô lớn, kỹ thuật về công nghệ hạt giống và đào tạo lớp học hiện trường (FFS) và hướng dẫn nông dân thực hiện, đăng ký nông sản theo các tiêu chuẩn của ASEAN GAP.
Điều kiện phát triển SX nông nghiệp của các nước ASEAN cũng tương tự như Việt Nam nên có thể ứng dụng tổ chức hệ thống Khuyến nông (quản lý Nhà nước cấp Trung ương và quản lý hệ thống cấp địa phương) vào điều kiện của Việt Nam.
(*): Tác giả hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
TS. HẠ THÚY HẠNH
(Theo Báo Nông Nghiệp Việt Nam)
Nhãn:
world
11:05
Hướng dẫn tìm số liệu thống kê nông nghiệp trên FAOSTAT
Written By Tadien on Tuesday, April 9, 2013 | 11:05
1. Đăng nhập vào địa chỉ: http://faostat.fao.org .Trang tra cứu mở ra như hình dưới: hai hàng Menu (xanh da trời phía trên và xanh lá cây phía dưới) có rất nhiều số liệu cho chúng ta tra cứu, ở đây tôi hướng dẫn tra cứu số liệu sản suất cho cây trồng: vì thề bạn chọn “Crops”.
2. Trang tra cứu hiện ra có 4 cột cho chúng ta tra số liệu: Quốc gia (Country) – Item (loại cây trồng) – Element (số liệu cần tra) và năm cần tra (Chú ý ở phía cuối cùng có Latest News: dữ liệu cập nhật mới nhất
3. Lựa chọn 4 cột trên sau đó click: “Show Data”
Ở đây tôi ví dụ chọn Vietnam – Rice, paddy (lúa gạo) – Area Harvested (Diện tích) – năm 2007
4. Kết quả hiện ra cho bạn:
5. Các bạn làm tương tượng để tra cứu các số liệu khác. Các chú ý về đơn vị của các số liệu trên FAO như sau:
Diện tích – Area Harvested: ha
Yield – năng suất: hg/ha – hectogam/ha (1hg = 0,1kg = 0,001 tạ)
Production – sản lượng: tấn
6. Ngoài số liệu từng quốc gia, ta còn có thể tìm số liệu theo các nhóm đặc biệt, nhóm địa lý: chú ý cuối các số liệu nhóm có dấu “>” và “+” có nghĩa là
“>”: sẽ liệt kê ra số liệu của các quốc gia thuộc nhóm có dữ liệu mà chúng ta muốn tra cứu. Xem ví dụ sau:
Kết quả:
“+”: tổng số liệu của tất cả các nước thuộc khu vực mình tra cứu mà có dữ liệu chúng ta cần tra. Xem ví dụ:
Kết quả:
2. Trang tra cứu hiện ra có 4 cột cho chúng ta tra số liệu: Quốc gia (Country) – Item (loại cây trồng) – Element (số liệu cần tra) và năm cần tra (Chú ý ở phía cuối cùng có Latest News: dữ liệu cập nhật mới nhất
3. Lựa chọn 4 cột trên sau đó click: “Show Data”
Ở đây tôi ví dụ chọn Vietnam – Rice, paddy (lúa gạo) – Area Harvested (Diện tích) – năm 2007
4. Kết quả hiện ra cho bạn:
5. Các bạn làm tương tượng để tra cứu các số liệu khác. Các chú ý về đơn vị của các số liệu trên FAO như sau:
Diện tích – Area Harvested: ha
Yield – năng suất: hg/ha – hectogam/ha (1hg = 0,1kg = 0,001 tạ)
Production – sản lượng: tấn
6. Ngoài số liệu từng quốc gia, ta còn có thể tìm số liệu theo các nhóm đặc biệt, nhóm địa lý: chú ý cuối các số liệu nhóm có dấu “>” và “+” có nghĩa là
“>”: sẽ liệt kê ra số liệu của các quốc gia thuộc nhóm có dữ liệu mà chúng ta muốn tra cứu. Xem ví dụ sau:
Kết quả:
“+”: tổng số liệu của tất cả các nước thuộc khu vực mình tra cứu mà có dữ liệu chúng ta cần tra. Xem ví dụ:
Kết quả:
Nhãn:
experience,
knowledge,
resources
10:46
Approach and procedure of Farmer Field School methodology
The FFS approach was developed by an FAO project in South East Asia as a way for small-scale rice farmers to investigate, and learn, for themselves the skills required for, and benefits to be obtained from, adopting on practices in their paddy fields.
The term “Farmers’ Field School” comes from the Indonesian Sekolah Lampangan meaning simply “field school”. The first Field Schools were established in 1989 in Central Java during the pilot phase of the FAO-assisted National IPM Programme. This Programme was prompted by the devastating insecticide-induced outbreaks of brown plant hoppers (Nilaparvata lugens) that are estimated to have in 1986 destroyed 20,000 hectares of rice in Java alone. The Government of Indonesia’s response was to launch an emergency training project aimed at providing 120,000 farmers with field training in IPM, focused mainly on recording on reducing the application of the pesticides that were destroying the natural insect predators of the brown plant hopper.
The technicalities of rice IPM were refined in 1986 and 1987 and a core curriculum for, training farmers was developed in 1988 when the National IPM Programme was launched. It was based not on instructing farmers what to do but on empowering them through education to handle there own on-farm decisions, using experiential learning techniques developed for non-formal adult education purposes.
Since then, the approach has been replicated in a variety of settings beyond IPM. The FARM Programme (FAO/UNDP), for example, has sought to adapt the FFS approach to tackle problems related to integrated Soil Fertility Management in the Philippines, Vietnam and China. The themes studied by farmers’ groups include soil mapping of village lands, physical and chemical analysis soils, fertilizer application and the influence of cropping practices on fertility. With the knowledge thus gained, farmers can more easily recognize differences in soils and take better informed decisions on the use of organic and inorganic fertilizers, alternative tillage systems and cropping practices so as to improve the conservation and management of soil productivity.
Subsequently the FFS approach has been extended to several countries in Africa and Latin American. At the same time there has been a shift from IPM for rice based systems towards other annual crops, vegetables etc and the curriculum has been enriched with other crop management aspects.
Full Document
10:41
The Impact of Farmer-Field-Schools on Knowledge and Productivity
Using survey-data from Peru, this paper evaluates the impact of a pilot farmerfield-school (FFS) program on farmers’ knowledge of integrated pest management (IPM) practices related to potato cultivation. We use both regression analysis controlling for participation and a propensity score matching approach to create a comparison group similar to the FFS participants in
observable characteristics. Results are robust across the two approaches as well as with different matching methods. We find that farmers who participate in the program have significantly more knowledge about IPM practices than those in the non-participant comparison group. We also find suggestive evidence that improved knowledge about IPM practices has the potential to significantly
improve productivity in potato production.
Link:
10:37
Diffusion of information among small-scale farmers in Senegal
Knowledge is an important factor to realize productivity increases in agriculture in developing
countries. The generation and diffusion of knowledge on sustainable farming practices has
long been a problem in promoting rural development especially in Africa. . A new concept of
farmer training called the "Farmer Field School" (FFS) was developed in the 1980s by the
Food and Agriculture Organization (FAO) in Indonesia for the promotion of integrated pest
management (IPM1
), and promised to be an effective tool to extend knowledge to farmers
(Pontius et al. 2002). It has been shown that FFS helps to increase farmer knowledge
(Godtland et al. 2004), and studies in several Asian countries demonstrated that FFS can be
effective in reducing the excessive use of chemical pesticides (e.g. Tripp et al. 2005; Winarto
2004; Praneetvatakul and Waibel 2005). However, the expected economic benefits are not
always unambiguously ascertainable as shown for example by a study of Feder et al. (2002)
in Indonesia. While much of the investment in FFS has taken place in Asia, more recently
FAO has introduced FFS in Africa, which some analysts have questioned from a strategic
point of view (Eicher 2003). In particular, doubts were raised regarding the expected diffusion
effects of knowledge from trained farmers to non-participants, which are essential for
achieving large-scale impact of FFS (Rola et al. 2002; Feder et al. 2004).
Link: http://www.econstor.eu/dspace/bitstream/10419/19855/1/Witt.pdf
Nhãn:
book,
English,
experience,
FFS
10:23
Farmer Field Schools in Ecuador
Up to 25 million farm workers in the developing world suffer an incidence of pesticide poisoning each year (http://www.who.org). Over 30 years of research has shown that intensive, high external input farming has influenced and even determined rural life. In Andean countries like Ecuador , pesticide intoxications have caused health, environmental and social problems. Studies in northern Ecuador provinces have shown that in areas where a lot of highly toxic pesticides are applied, societies face reproductive and pregnancy problems, high percentages of suicides, and a more than average number of disabled children, cancers and even death.
Through the years both farmers and researchers acknowledged the relation between the use of highly toxic pesticides and economical, health and environmental problems in Ecuador. In 1999 FAO's Global IPM Facility (GIF) and the Centro Internacional de la Papa (CIP) financed the introduction of Farmer Field Schools (FFS) in the region (Ecuador, Peru and Bolivia). Parallel the Swiss Development and Cooperation Agency (COSUDE) funded the FORTIPAPA-project, which implemented FFS in the Andean provinces of Ecuador (e.g. the most northern province of Ecuador; Carchi). Subsequently FAO's Technical Cooperation Programme funded CIP and INIAP (the national agricultural research centre) to implement a Training of Trainers (TOT) for FFS.
FFS are a high order participatory approach that employs well-established principals of adult education, in-depth knowledge of agro-ecology and social organisation. The FFS-methodology is based on discovery learning, farmer-to-farmer extension and a learning process that actually takes place in the farmer’s fields, guided by facilitators. The pilot results of FFS in Carchi were impressive. The training has led farmers to increase productivity up to 40%, while reducing pesticide use by 75% (BBC Worldservice, 2004), led up to the acceptance of FFS as ‘best practice’ in Ecuador. After the FFS-pilot, National Research Centers , NGOs, CBOs, GOs and even the pesticide industry took up the FFS-methodology. Side effect was that the utilisation of the FFS-concept became a grey area, which concerned national and international organisations.
Six years of reflective practice, studies (e.g. Paredes, 2001; Barrera et al., 2001; Barrera et al. 2004; Borja, 2004, Schut, 2006 and Tracy, 2007), and follow-up visits with FFS graduates, facilitators, and Master Trainers revealed the grey area in which FFS had disappeared. It turned out that the pesticide industry and INIAP used the FFS-concept to facilitate Safe and Correct Use of Pesticide training for women and primary school children. These contradictory events used FFS-elements in order to promote Correct Use of (highly toxic) Pesticides, which was proven to be not realistic and largely in-effective, particularly with smallholder farmers (Atkin and Leisinger, 2000). INIAP, who were closely involved in the implementation of FFS in Ecuador to challenge the pesticide-paradigm, was now co-facilitating a campaign that promoted use of highly toxic pesticides and reinforced the pesticide-campaign rather then challenging it.
Besides INIAP and the pesticide industry also GOs, NGOs and CBOs took up the FFS-methodology. Research (Schut, 2006) showed that they also transformed the FFS-methodology to fit their (and their donor’s) objectives. Participatory observations show that different organisations apply the FFS-concept differently. Some FFS only consist of doing the Agro-EcoSystem Analysis (AESA) and IPM-related activities, while other FFS also contain group dynamics activities and Specific Studies. Also the way how fundamental elements – such as the AESA – were executed differs between the FFS. In some FFS the participants did not actually enter the learning plots to observe and study the crop. Decisions on the crop’s management strategy were not based on negotiation and discussion, but on the facilitator’s recommendations. Some FFS were organised in line with the normative principles, while other FFS were executed more in line with traditional, instrumental extension methods like Training and Visit. In these situations FFSs hardly contribute to increased farmer-led innovation, decision-making capacity and reduced pesticide use. These FFSs were pulled back into the pesticide-paradigm they were once supposed to challenge.
Fortunately there is also very good news around FFS coming from Ecuador . Actors are becoming aware of the erosion of the FFS-methodology and form coalitions and networks to protect and discuss the quality of FFS. Especially the farmer-led FFSs organised by CBO in Ecuador are promising in terms of impact and sustainability. These FFSs show that when FFSs are organised and executed in line with their initial goals (capacity building, discovery-based development, to seek alternatives to high input farming), and pay respect to the knowledge, experiences and learning process of local farmers, FFSs can indeed be acknowledged as ‘best practice’ and promising novelty for transforming agricultural practice.
Nhãn:
book,
English,
experience,
FFS














